TRẺ HÓA BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP Ở VIỆT NAM

BẠN CÓ BIẾT?

Tăng huyết áp là căn bệnh phổ biến và thường tỉ lệ thuận với độ tuổi. Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và nhập viện do bệnh lý tim mạch 10,4 triệu ca tử vong mỗi năm. Điều trị tăng huyết áp đã chứng minh giảm được các biến cố như tai biến mạch não, nhồi máu cơ tim và tử vong tim mạch.

Tăng huyết áp ảnh hưởng đến một phần tư dân số toàn cầu và là yếu tố nguy cơ có thể thay đổi hàng đầu đối với bệnh tim mạch và tử vong. Trước đây, việc điều trị thường tập trung vào những người có nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch trong 10 năm cao nhất, trong đó tuổi tác ngày càng cao là một yếu tố quan trọng. Tuy nhiên, sự hiện diện của tăng huyết áp ở người trẻ tuổi làm gia tăng nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch ở tuổi trung niên. Nó góp phần làm khởi phát sớm bệnh mạch vành, suy tim, đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua.

Mặc dù đã có các hướng dẫn phù hợp, nhưng chúng chưa phục vụ hiệu quả cho kiểm soát và điều trị những bệnh nhân trẻ bị tăng huyết áp có nguy cơ thấp như đối với bệnh nhân lớn tuổi. Trước đây bệnh tăng huyết áp thường gặp ở những người từ độ tuổi trung niên trở lên nhưng những năm vừa qua chứng kiến việc số tuổi trung bình của người bị tăng huyết áp càng ngày càng giảm dần. Chính vì vậy việc chủ động tự tìm hiểu về bệnh tăng huyết áp là điều vô cùng cần thiết. 

BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP LÀ GÌ?

Đây là tình trạng áp lực máu tác động lên thành mạch tăng tăng. Tăng huyết áp không có biểu hiện rõ ràng nên bạn có thể mắc bệnh trong nhiều năm mà không hề biết. Tuy nhiên, nếu không được điều trị sớm tăng huyết có thể gây những biến chứng nguy hiểm như đau tim, đột quỵ.

Để xác định có bị tăng huyết áp hay không bác sĩ sẽ căn cứ vào số đo huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Nếu bị tăng huyết áp, cả 2 chỉ số này sẽ tăng hơn bình thường…

Có rất nhiều cách phân chia mức độ tăng huyết áp và ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp, trong đó ngưỡng thường được sử dụng nhất là: ≥ 140 mmHg với huyết áp tâm thu và ≥ 90 mmHg với huyết áp tâm trương.

TĂNG HUYẾT ÁP ĐANG CÓ XU HƯỚNG XẢY RA Ở NHỮNG NGƯỜI TRẺ TUỔI

Tại Việt Nam, nghiên cứu đầu tiên tiến hành tại miền Bắc năm 1960 cho thấy tỷ lệ bị tăng huyết áp là 1% dân số trưởng thành. Đến năm 1992, tỷ lệ bị tăng huyết áp tăng lên 11,7% dân số trưởng thành trong cả nước. Điều tra năm 2012 cho kết quả có 25,1% dân số trên 25 tuổi bị tăng huyết áp, trong số đó tỷ lệ biết bị tăng huyết áp là 48,4%, tỷ lệ được điều trị là 61,1% và tỷ lệ đạt huyết áp mục tiêu là 36,3%. Dự báo tỷ lệ tăng huyết áp đi kèm với số đo vòng bụng và chỉ số khối cơ thể ở Việt Nam sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới. Thống kê cho thấy cứ mỗi năm tỷ lệ tăng huyết áp ở nam giới sẽ tăng 1,1%, con số này ở nữ giới là 0,9%.

Khác với người lớn tuổi khó xác định được nguyên nhân chính xác (cao huyết áp nguyên phát) dẫn đến cao huyết áp, cao huyết áp ở người trẻ thường do những nguyên nhân sau đây (thường là các nguyên nhân thứ phát):

  • Béo phì, thừa cân do ít vận động hoặc do ăn uống không khoa học.
  • Chế độ ăn nhiều muối, dung nạp nhiều chất béo không tốt như mỡ, nội tạng động vật.
  • Các bệnh lý như bệnh thận, bệnh tim, các bệnh rối loạn chuyển hóa nội tiết như cường giáp, suy giáp, đái tháo đường…
  • Do di truyền.
  • Căng thẳng thời gian dài.
  • Sử dụng nhiều chất kích thích như: thuốc lá, rượu bia.
  • Trước 45 tuổi, tỉ lệ đàn ông bị mắc cao huyết áp cao hơn phụ nữ.

TRIỆU CHỨNG THƯỜNG GẶP CỦA BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP

Hầu hết những bệnh nhân bị tăng huyết áp đều không có triệu chứng cụ thể. Chỉ một số ít người bệnh xuất hiện những triệu chứng như đau đầu, chảy máu cam, khó thở. Tuy nhiên, các triệu chứng này thường không rõ ràng và rất khó nhận biết. Chỉ đến khi bệnh đã phát triển đến giai đoạn nghiêm trọng gây đe dọa đến tính mạng người bệnh mới nhận biết được.

PHÒNG TRÁNH VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP:

So với người lớn tuổi, điều trị bệnh huyết áp cao ở người trẻ sẽ dễ dàng hơn do có thế mạnh về sức khỏe và khả năng phục hồi tốt hơn, thế nên, điều trị cao huyết áp cho người trẻ tuổi chưa cần phải sử dụng tới các liệu pháp uống thuốc hay can thiệp sâu khác.

Giữ cân nặng phù hợp

Đảm bảo chỉ số BMI ở khoảng ổn định (BMI – Body Mass Index: từ 18,5 – 24,9) bằng chế độ ăn uống và luyện tập phù hợp. Biện pháp này được coi như là xương sống của việc đảm bảo sức khỏe nói chung và điều trị bệnh cao huyết áp nói riêng.

Thực hiện chế độ ăn DASH

Chế độ ăn DASH (Dietary Approaches to Stop Hypertension) bao gồm các nguyên tắc sau:

  • Ít muối, chất béo bão hoà (là chất béo xấu như mỡ động vật), cholesterol. Nghiên cứu cho thấy việc nạp dưới 1.600 mg muối mỗi ngày sẽ giúp giảm 2 – 8mmHg chỉ số huyết áp.
  • Sử dụng nhiều trái cây, rau củ quả, sữa và chế phẩm sữa ít béo.
  • Ngũ cốc nguyên hạt, cá, thịt gà. vịt… và các loại hạt.
  • Ít ăn lượng thịt đỏ, các thực phẩm và đồ uống có đường.
  • Ăn thực phẩm nhiều kali (chuối, nước dừa, đậu trắng), canxi (nhiều trong tôm, cua, chế phẩm sữa) và chất xơ (trong rau, củ quả).

Tập thể dục thường xuyên

Tập thể dục thường xuyên rất có lợi cho sức khỏe, đảm bảo trọng lượng ở mức vừa phải, tăng cường lưu thông máu, giảm huyết áp. Nếu bạn không có nhiều thời gian trong việc này thì có thể thực hiện những hoạt động đơn giản như: Đi bộ, đạp xe đạp…

Kiểm soát cồn

Uống rượu, bia sẽ làm tăng huyết áp tạm thời nhưng sau đó sẽ trở lại bình thường khi người đó ngừng uống. Tuy nhiên, uống rượu bia thường xuyên thì sẽ gây tăng huyết áp dài hạn. Đối với người đã bị cao huyết áp, việc uống rượu, bia sẽ gây tăng huyết áp lâu hơn và khó hạ hơn so với người bình thường. Các nhà khoa học và các bác sĩ khuyến cáo: Người dưới 65 tuổi uống không quá 2 lon / ngày, người trên 65 tuổi uống không quá 1 lon bia / ngày (hoặc tương đương với 148ml rượu vang).

PHÒNG NGỪA BỆNH HUYẾT ÁP CAO Ở NGƯỜI TRẺ

Chế độ dinh dưỡng

Đối với người trẻ, chế độ phòng ngừa bệnh cao huyết áp cũng tương tự như cách điều trị nhưng có phần đỡ siết chặt hơn như sau:

  • Hạn chế ăn muối (không quá 2 – 4g trên ngày).
  • Ăn nhiều rau củ quả, thực phẩm nhiều kali, canxi.
  • Hạn chế đồ ăn nhiều chất béo xấu.
  • Giảm đồ uống có cồn, có nhiều đường.

Chế độ sinh hoạt

  • Giảm hút thuốc lá, nếu bỏ được thì càng tốt.
  • Tập thể dục thường xuyên, mỗi lần từ 30 – 45p.
  • Không thức khuya để ảnh hưởng tới hệ miễn dịch của cơ thể.
  • Hạn chế stress, suy nghĩ nhiều dẫn tới suy yếu hệ miễn dịch.

Tác giả: BSCKI. Nguyễn Đức Huy – Khoa Nội Tim Mạch